Báo Doanh Nhân Việt - Úc

Nhất thể chức danh Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Bước đi chiến lược gắn với xu thế thời đại, vì dân và sự phát triển bền vững của đất nước

(DNVU) - Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với 495/495 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, đạt 100% số đại biểu có mặt và chiếm 99% tổng số đại biểu Quốc hội và Quốc hội đã thông qua Nghị quyết bầu Tổng Bí thư Tô Lâm giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.


Trao đổi với Doanh nhân Việt - Úc Online, Luật sư Trần Bá Phúc - Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Hội Doanh nhân Việt Nam tại Úc (VBAA), Phó Chủ tịch Hiệp Hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài, Phó Chủ nhiệm CLB Vì Trường Sa - Hoàng Sa thân yêu, khẳng định việc nhất thể hóa chức danh Tổng Bí thư, Chủ tịch nước sẽ đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đất nước trong giai đoạn mới, giai đoạn hội nhập quốc tế sâu - rộng.

 

Doanh nhân Việt - Úc Online trân trọng xin giới thiệu với bạn đọc trong nước và kiều bào nội dung trao đổi này.

 

* Việc nhất thể hóa hai chức danh lãnh đạo đem lại những lợi ích gì trong việc bảo đảm sự lãnh đạo xuyên suốt, hiệu quả của Đảng đối với hệ thống chính trị và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thưa ông?

 

Luật sư Trần Bá Phúc: Trước hết, việc nhất thể hóa một số chức danh lãnh đạo chủ chốt, đặc biệt là chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước, được đội ngũ trí thức kiều bào khẳng định đây là bước đi phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Chủ trương này góp phần tăng cường sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. 

 

Việc nhất thể chức danh còn giúp bảo đảm sự chỉ đạo xuyên suốt, thống nhất, tránh chồng chéo trong quá trình điều hành. Nhờ đó, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng sẽ được nâng cao rõ rệt trong mọi lĩnh vực. Đây cũng là cơ sở quan trọng để hệ thống chính trị vận hành đồng bộ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.

 

Hiện nay, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những yêu cầu ngày càng cao về hiệu lực, hiệu quả trong lãnh đạo, quản lý và hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trở thành nhiệm vụ cấp thiết. 

 

Thực tiễn đã chứng minh, sự lãnh đạo thống nhất, tập trung của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Những kết quả đạt được trong các nhiệm kỳ gần đây, cùng với định hướng tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XVI, tiếp tục đặt ra yêu cầu cần nhìn nhận vấn đề một cách khoa học, khách quan và toàn diện, gắn với yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

 

Việc hợp nhất chức danh lãnh đạo cao nhất có ý nghĩa như thế nào trong việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đồng thời vẫn bảo đảm các nguyên tắc kiểm soát quyền lực và vai trò của các cơ quan trong hệ thống chính trị, thưa ông?


Có thể thấy, quan ngại về sự tập trung quyền lực là một vấn đề cần được đặt ra một cách nghiêm túc. Nhưng trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, việc hợp nhất chức danh không đồng nghĩa với việc buông lỏng kiểm soát quyền lực. Ngược lại, mô hình này vẫn vận hành trên nền tảng các nguyên tắc cơ bản như tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đồng thời bảo đảm cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị.

Từ thực tiễn, tôi thấy, khi quyền hạn và trách nhiệm được thống nhất ở người đứng đầu, việc chỉ đạo, điều hành sẽ trở nên xuyên suốt, đồng bộ hơn, qua đó góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong toàn hệ thống. Quan trọng hơn, các thiết chế kiểm soát quyền lực vẫn được duy trì và phát huy hiệu quả, tạo thành “hàng rào” ngăn ngừa nguy cơ lạm quyền.

Vì vậy, việc hợp nhất chức danh không làm gia tăng sự lạm quyền, mà trái lại còn góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực, bảo đảm bộ máy vận hành minh bạch, chặt chẽ và hiệu quả hơn trong bối cảnh phát triển mới.

* Bên cạnh những yếu tố khách quan từ thực tiễn và kinh nghiệm mà ông vừa phân tích, vậy dưới góc độ lý luận, đặc biệt là gắn với chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề này được nhìn nhận như thế nào, thưa ông ?

 

- Như tôi đã nói, việc nhất thể hóa chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước là phù hợp cả về lý luận lẫn thực tiễn trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Vấn đề cần được xem xét một cách thấu đáo, đó là liệu chủ trương này có phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hay không? Để làm rõ, tôi sẽ đưa ra những luận cứ mang tính nền tảng.

 

Về nguyên lý, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong mô hình đó, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Vậy thì, sự phân công không đồng nghĩa với phân lập cứng nhắc, mà vận hành trên nền tảng thống nhất quyền lực chính trị.

 

Vậy thì, việc nhất thể chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước không làm thay đổi bản chất của mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Ngược lại, nó củng cố và tăng cường tính thống nhất của quyền lực. Khi người đứng đầu Đảng đồng thời là nguyên thủ Quốc gia, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước được thể hiện một cách trực tiếp, rõ ràng và nhất quán hơn, qua đó hạn chế tình trạng chồng chéo, phân tán trong chỉ đạo và điều hành.

 

Với công tác đối ngoại, việc nhất thể hóa chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước có ý nghĩa như thế nào, thưa ông?

 

- Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vai trò của nguyên thủ quốc gia ngày càng trở nên quan trọng trong việc đại diện cho quốc gia trên trường quốc tế. Việc Tổng Bí thư đồng thời đảm nhiệm cương vị Chủ tịch nước giúp bảo đảm rằng tiếng nói đối ngoại của Việt Nam phản ánh đầy đủ, thống nhất ý chí chính trị của Đảng và Nhà nước. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả đối ngoại mà còn góp phần củng cố vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

 

Từ những luận cứ tôi nêu trên, có thể đi đến kết luận, việc nhất thể hóa hai chức danh này nó phù hợp, thậm chí góp phần thúc đẩy việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.


Tư tưởng “Dân là gốc” mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại lễ tuyên thệ có ý nghĩa như thế nào đối với Phương châm hành động của Quốc hội và Chính phủ trong nhiệm kỳ mới, thưa ông?

Tư tưởng “Dân là gốc” là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Quốc hội, Chính phủ và hệ thống chính trị. Nó nhắc nhở rằng, mọi quyết sách, mọi hành động đều phải hướng đến lợi ích cao nhất của nhân dân, bảo đảm đất nước không bỏ lỡ cơ hội và người dân không chịu thiệt thòi. 

Trong nhiệm kỳ này với bộ máy tinh gọn, địa giới hành chính thay đổi sáp nhập, sự quyết liệt và đồng bộ, tư tưởng này định hướng cho Quốc hội và Chính phủ hành động tập trung, mạnh mẽ hơn, thực hiện đồng bộ các lĩnh vực từ kinh tế - xã hội đến quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Luật Luật Luật sư Trần Bá Phúc - Ảnh: Quỳnh Lâm

Khi tư tưởng “Dân là gốc” được đặt làm kim chỉ nam, toàn bộ hệ thống chính trị sẽ hành động quyết liệt và đồng bộ hơn, vì lợi ích cao nhất của nhân dân và của cả dân tộc, đồng thời củng cố niềm tin và sức mạnh đoàn kết toàn dân.

Những kiều bào như tôi, khi nghe Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định, Chính phủ mới, Quốc hội mới với bộ máy mới sẽ không để cho đất nước mất cơ hội và không để cho người dân phải chịu thiệt thòi, làm cho tôi xúc động và tuyệt đối tin tưởng vào sự thay đổi có tính bước ngoặc kỳ tích này của đất nước, của Đảng. Đây cũng là mong mỏi lớn nhất của hơn 100 triệu người dân trong nước và hơn 6,5 triệu kiều bào đang sinh sống khắp nơi tại 130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.

Đảng và Nhà nước luôn xem cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc, là nguồn lực quan trọng của đất nước. Trong bối cảnh này, cụ thể với Nghị quyết số 36-NQ/TW và Chỉ thị số 11/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh huy động kiều bào tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phát triển kênh phân phối hàng Việt Nam giai đoạn 2026-2030; sau Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, những định hướng, giải pháp nào được triển khai để huy động hiệu quả nguồn lực của kiều bào, thưa ông?

- Mỗi quyết sách của Đảng đều gắn liền với tương lai và vị thế của đất nước, đồng thời là niềm tự hào và trách nhiệm của hơn 6,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống trên khắp thế giới. Đảng và Nhà nước đã tạo hành lang pháp lý ổn định, bảo đảm kiều bào yên tâm hội nhập và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.

Tôi tin tưởng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài sẽ luôn hướng về Tổ quốc với tình cảm sâu nặng, niềm tin sắt son và quyết tâm đồng hành cùng Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong bối cảnh này, các định hướng trọng tâm là: đặt con người Việt Nam, dù trong nước hay ở nước ngoài, ở vị trí trung tâm của mọi chính sách phát triển; tiếp tục khơi dậy sức sáng tạo, tinh thần đoàn kết, ý chí vươn lên của kiều bào; phát huy vai trò của họ trong việc giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài. 

Đại sứ Việt Nam tại Úc Phạm Hùng Tâm; Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Sydney Nguyễn Thanh Tùng; Chủ tịch Hội Doanh nhân Việt Nam tại Úc Trần Bá Phúc; Tổng Thư ký Hội Doanh nhân Việt Nam tại Úc Đổ Gia Thắng (Từ phải qua)

Theo tôi, đây chính là cơ sở để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, hội nhập sâu rộng và lan tỏa mạnh mẽ giá trị Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, Chỉ thị số 11/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ cụ thể hóa Nghị quyết số 36-NQ/TW đối với cộng đồng kiều bào, tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để doanh nhân trong và ngoài nước đều có thể đóng góp hiệu quả cho sự phát triển của đất nước.

Điều này đã khơi dậy tinh thần khởi nghiệp và sáng tạo của doanh nhân Việt Nam tại Úc nói riêng, và giúp doanh nhân kiều bào xem những chính sách này là động lực để vượt qua những biến động về địa chính trị và kinh tế toàn cầu hiện nay, đồng thời củng cố niềm tin và ý chí đồng hành cùng Tổ quốc trong mọi hoàn cảnh.

Thưa ông, với vai trò Chủ tịch VBAA - cơ quan chủ quản của Doanh nhân Việt Úc Online, trong thời gian tới Ban biên tập sẽ triển khai những hoạt động thiết thực nào gắn với Nghị quyết số 36-NQ/TW  Chỉ thị số 11/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ? Đồng thời, làm thế nào để doanh nhân tại Việt Nam hiểu rõ tôn chỉ, mục đích chiến lược và tầm nhìn của Doanh nhân Việt - Úc Online trong việc đồng hành cùng cộng đồng doanh nhân người Việt tại Úc, góp phần thực hiện thắng lợi các Nghị quyết lớn của Đảng và Nhà nước?

- Nhiều năm qua đã khẳng định vai trò là diễn đàn tin cậy của cộng đồng doanh nhân người Việt tại Úc, đồng thời là cầu nối thúc đẩy hợp tác sản xuất - kinh doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam - Úc. Không chỉ dừng lại ở chức năng thông tin, kết nối, Doanh nhân Việt - Úc  Online còn thực hiện một sứ mệnh chính trị - xã hội quan trọng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

 

Thông qua hoạt động tuyên truyền và kết nối, Doanh nhân Việt - Úc  Online đã lan tỏa tinh thần gắn bó, trách nhiệm của kiều bào với quê hương, phù hợp với quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước xem  kiều bào là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, gắn với tinh thần Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Và tiếp túc làm tốt nhiệm vụ của mình, góp phần thực hiện thắng lợi Chỉ thị số 11/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ.


Với trách nhiệm lớn đó, đội ngũ nhân sự làm việc cho Doanh nhân Việt - Úc Online đã  phát huy bản lĩnh, trí tuệ và danh dự của báo chí cách mạng Việt Nam, góp phần truyền đi thông điệp về một Việt Nam giàu - đẹp, nhân ái, tự tin, tự cường, năng động, phát triển bền vững trên trường quốc tế.

 

Sắp tới, VBAA sẽ mở văn phòng đại diện tại TP.HCM. Với Doanh nhân Việt - Úc Online sẽ là sẽ trở thành kênh truyền thông chính thống kết nối Việt - Úc, xứng tầm như Quan hệ đối tác chiến lược toàn diên của hai nước Việt Nam - Úc đã ký kết, gắn với các hiệp định thương mại đa, song phương. Nhiều doanh nhân Việt Nam biết tới Doanh nhân Việt - Úc Online, nhất là doanh nghiệp trong nước muốn phát triển và mở rộng sang thị trường Úc.


* Cảm ơn ông về những chia sẻ ý nghĩa này!