Báo Doanh Nhân Việt - Úc

Việt Nam trên hành trình nâng tầm vị thế, trở thành đất nước phi thường

(DNVU) -  Trong bối cảnh kinh tế - chính trị toàn cầu nhiều biến động, Việt Nam tiếp tục được các đối tác lớn đánh giá là điểm đến chiến lược, trung tâm kết nối khu vực và hình mẫu phát triển năng động, linh hoạt.

Vị thế của Việt Nam ngày càng được định hình rõ nét trong cấu trúc hợp tác quốc tế. Không chỉ được nhìn nhận là một thị trường tăng trưởng nhanh và giàu tiềm năng, Việt Nam còn khẳng định vai trò là đối tác tin cậy, chủ động và có trách nhiệm trong các cơ chế hợp tác đa phương. Với tầm nhìn dài hạn và tư duy hội nhập sâu rộng, đất nước từng bước tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu bằng năng lực nội tại ngày càng vững chắc. Sự sẵn sàng tham gia sâu hơn vào các liên kết kinh tế, thương mại và đầu tư thế hệ mới chính là minh chứng cho bản lĩnh và khát vọng phát triển bền vững của Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập.

Nội lực và vị thế quốc gia

Chia sẻ với  Doanh nhân Việt - Úc Online ông Danny Võ Thành Đăng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài cho rằng, sự phát triển hiện nay của Việt Nam cho thấy sức bật mạnh mẽ của một nền kinh tế năng động, linh hoạt và có khả năng chống chịu cao trước những biến động toàn cầu. Theo ông, chính nội lực được bồi đắp qua từng giai đoạn cải cách cùng tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhà nông đã tạo nên nền tảng vững chắc cho tăng trưởng bền vững. Đây không chỉ là minh chứng cho bản lĩnh thích ứng của Việt Nam trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, mà còn là tín hiệu tích cực về một tương lai phát triển ổn định và dài hạn.

Cũng theo ông Đăng, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, từ xung đột địa chính trị, lạm phát kéo dài đến đứt gãy chuỗi cung ứng, Việt Nam vẫn duy trì được một trong những quỹ đạo tăng trưởng ấn tượng nhất châu Á. Điều đáng ghi nhận không chỉ nằm ở các chỉ số tăng trưởng tích cực, mà còn ở định hướng phát triển nhất quán và tầm nhìn dài hạn.

Ông Danny Võ Thành Đăng 

So sánh trong khối ASEAN, Việt Nam đã thoát khỏi vị trí nền kinh tế “theo sau”, tiến gần nhóm dẫn đầu và vươn lên vị trí thứ 4 khu vực, chỉ sau Indonesia, Thái Lan và Singapore, với triển vọng vào Top 3 trong tương lai không xa. Nếu nhìn lại năm 1989 - 3 năm sau Đổi Mới thì Việt Nam lần đầu tiên vượt mốc 1 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, nhưng vẫn ở rất xa so với các nền kinh tế trong khu vực; khi đó xuất khẩu của Thái Lan, Malaysia cao gấp 25-30 lần, còn Nhật Bản cao gấp hàng trăm lần. Năm 2025, GDP Việt Nam vượt 500 tỷ USD, xếp khoảng thứ 32 thế giới; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 930,06 tỷ USD, trong đó xuất khẩu hơn 475 tỷ USD tăng gần 500 lần sau hơn 35 năm kể từ cột mốc 1 tỷ USD đầu tiên.

“Ấn tượng không chỉ là những con số, mà là hướng đi mà Việt Nam chọn. Sự lớn lên về kinh tế kéo theo sự thay đổi về vị thế trên trường quốc tế”, ông Danny Võ Thành Đăng nhấn mạnh. Theo ông, Việt Nam đang từng bước hiện đại hóa hạ tầng logistics, thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng các nguồn năng lượng sạch và chủ động tích hợp các tiêu chuẩn môi trường - xã hội - quản trị (ESG) vào chiến lược phát triển

Ông Đăng phân tích, việc dung hòa hài hòa giữa ổn định kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn và cải cách cơ cấu trong dài hạn chính là yếu tố tạo nên sức bền của nền kinh tế. Việt Nam không chỉ tập trung kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá, bảo đảm an sinh xã hội, mà còn đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Những bước đi này cho thấy Việt Nam đang chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào tốc độ sang mô hình tăng trưởng dựa vào chất lượng  từ “nhanh” sang “bền vững”.

Đề cập đến kết quả Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (BCI), ông Đăng cho biết cộng đồng doanh nghiệp rất phấn khởi khi mức độ niềm tin đạt cao nhất trong 3 năm qua. Có tới 76% lãnh đạo doanh nghiệp châu Âu sẵn sàng giới thiệu Việt Nam như một điểm đến đầu tư hấp dẫn.

“Nhà đầu tư đang nhìn Việt Nam như một trung tâm chiến lược của khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương”, ông Đăng nói. Theo ông, vị trí địa kinh tế thuận lợi, mạng lưới các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và môi trường chính trị - xã hội ổn định là những lợi thế cạnh tranh quan trọng của Việt Nam trong mắt nhà đầu tư quốc tế.

Dưới góc nhìn của ông Danny Võ Thành Đăng, cuộc gặp giữa Tổng Bí thư Tô. Lâm và ông Kurt M. Campbell - cựu Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ vào những ngày đầu Xuân Bính Ngọ - 2026 không chỉ mang ý nghĩa ngoại giao, mà phản ánh rõ chiều sâu chiến lược trong tư duy đối ngoại và phát triển của Việt Nam.

“Việc Việt Nam duy trì đối thoại với những nhân vật có tầm ảnh hưởng trong hoạch định chính sách của Mỹ cho thấy sự chủ động và bản lĩnh của Chinh phủ vtrong triển khai đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế”, ông Đăng nhận định.

Theo ông, ý nghĩa trực tiếp của cuộc gặp nằm ở việc củng cố niềm tin chính trị và mở rộng không gian hợp tác thực chất giữa Việt Nam - Mỹ, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, tài chính, hạ tầng số và năng lượng sạch. “Khi người đứng đầu Đảng khẳng định thành công của nhà đầu tư cũng chính là thành công của Việt Nam, đó là cam kết ở cấp cao nhất về một môi trường đầu tư ổn định, minh bạch và dài hạn”, ông Đăng nhấn mạnh.

Ở góc độ gián tiếp, theo ông Đăng, cuộc tiếp xúc còn gửi đi thông điệp mạnh mẽ tới cộng đồng quốc tế. “Việt Nam không chỉ mở cửa đón vốn, mà đang nâng chuẩn hợp tác. Chúng ta mong muốn dòng vốn chất lượng cao, gắn với chuyển giao công nghệ, chuẩn mực quản trị tiên tiến và phát triển bền vững…”, ông phân tích.

Theo ông Đăng, việc đề nghị tăng cường kết nối doanh nghiệp Mỹ với các bộ, ngành, địa phương và phản ánh sớm kiến nghị của doanh nghiệp vào quá trình xây dựng chính sách cho thấy Việt Nam đang hoàn thiện mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển. “Đó là cách để chính sách đi trước một bước, đồng hành cùng doanh nghiệp thay vì chạy theo thực tiễn”, ông Đăng nói.

Cũng theo ông Đăng, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để nâng tầm vị thế. Nhưng cơ hội chỉ bền vững khi đi cùng cải cách thể chế và nâng cao năng lực nội tại. “Việt Nam đang chuyển từ tư duy thu hút đầu tư bằng chi phí sang thu hút bằng chất lượng môi trường kinh doanh. Đây là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược”, ông đánh giá.

Chia sẻ về vai trò điều hành của Chính phủ, ông Đăng đánh giá cao sự linh hoạt và khả năng thích ứng trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Những nỗ lực đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng trọng điểm đã mang lại kết quả rõ rệt.

“Cải cách về thị thực và giấy phép lao động được doanh nghiệp châu Âu đánh giá tích cực. Gần một nửa doanh nghiệp trong khảo sát BCI quý gần nhất ghi nhận những cải thiện đáng kể”, ông Đăng cho biết.

Dù vậy, ông cho rằng, vẫn còn một số thách thức như sự chênh lệch trong thực thi chính sách giữa các địa phương, thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực còn phức tạp, hay thiếu khung pháp lý đồng bộ cho năng lượng tái tạo và sử dụng đất. Theo ông, điều quan trọng là quyết tâm cải cách của Việt Nam rất rõ ràng và nhất quán.

“Tinh thần cầu thị và năng động của Chính phủ cùng người dân Việt Nam chính là lý do khiến nhà đầu tư gắn bó lâu dài. Đó cũng là nền tảng của các mối quan hệ hợp tác bền vững với doanh nghiệp châu Âu và nước Úc”, ông Đăng nhấn mạnh.

Nâng tầm quan hệ đối tác

Ở góc nhìn quan hệ song phương Việt - Úc, ông Trần Bá Phúc - Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội Doanh nhân Việt Nam tại Úc, Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Úc đang phát triển mạnh mẽ và ở giai đoạn tốt đẹp nhất kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao.

Hơn 50 năm qua, hợp tác Úc - Việt Nam luôn phát triển song hành với tiến trình đổi mới và hội nhập của Việt Nam. Từ những ngày đầu tập trung hỗ trợ xây dựng hạ tầng cơ bản như cầu Mỹ Thuận đến nay Úc chú trọng hỗ trợ Việt Nam giải quyết những thách thức phức tạp hơn như chuyển đổi năng lượng, ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực quản trị.

Ông Trần Bá Phúc

Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, đây được xem là một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ hai nước. Hơn 7.500 cán bộ, lãnh đạo trẻ Việt Nam đã nhận học bổng của Chính phủ Úc trong 50 năm qua; hơn 160.000 sinh viên Việt Nam từng học tập tại Úc. Khi trở về nước, nhiều cựu du học sinh giữ vị trí quan trọng trong khu vực công, tư và các tổ chức quốc tế, đóng góp thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.

“Sau 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, Úc đã hỗ trợ ODA cho Việt Nam hơn 3 tỷ AUD. Riêng giai đoạn 2025-2026, mức hỗ trợ phát triển được nâng lên 96,6 triệu AUD, thể hiện cam kết mạnh mẽ trong khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện, đồng hành cùng Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045”, ông Phúc thông tin.

Về du lịch, Úc tiếp tục nằm trong nhóm 10 thị trường gửi khách lớn nhất của Việt Nam, với hơn 447.000 lượt khách trong 10 tháng đầu năm 2025. Chính sách thị thực điện tử thuận tiện, cùng các đường bay thẳng từ Melbourne, Sydney, Perth đến Hà Nội và TP.HCM, đang tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu nhân dân và thúc đẩy hợp tác kinh tế, văn hóa giữa hai quốc gia.

Không chỉ dừng lại ở các lĩnh vực truyền thống, hợp tác Việt Nam - Úc còn mở rộng mạnh mẽ sang ứng phó biến đổi khí hậu và chuyển dịch năng lượng. Hai nước đang triển khai nhiều dự án chung nhằm giảm phát thải, phát triển năng lượng tái tạo, huy động nguồn lực khí hậu và xây dựng chuỗi cung ứng xanh.

Ông Trần Tường Huy

Úc đã hỗ trợ 10 doanh nghiệp lúa gạo áp dụng công nghệ và quy trình canh tác hiện đại trên trên 33.000ha tại khu vực ĐBSCL. Sáng kiến này góp phần cải thiện sinh kế cho trên 46.000 người dân tại vùng chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng hơn nữa cho ngành lúa gạo Việt Nam.

Theo ông Phúc, trong bối cảnh kinh tế thế giới đang tái cấu trúc mạnh mẽ, việc Việt Nam kiên định với định hướng phát triển bền vững, chủ động hội nhập và củng cố quan hệ đối tác chiến lược với các quốc gia như Úc sẽ tạo thêm động lực quan trọng cho giai đoạn phát triển mới. 

“Những nền tảng đã được xây dựng không chỉ giúp Việt Nam vượt qua thách thức trước mắt, mà còn mở ra dư địa tăng trưởng dài hạn, hướng tới mục tiêu phát triển thịnh vượng và bao trùm trong những thập niên tới”, ông Phúc tiun tưởng nói.

Theo ông Trần Tường Huy - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Du lịch Xã hội, việc Việt Nam liên tục nâng tầm quan hệ đối tác với Úc và nhiều quốc gia trên thế giới còn là bước triển khai nhất quán đường lối đối ngoại của Đảng về độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. 

“Đó là bản lĩnh của một quốc gia hiểu rõ lợi ích cốt lõi, biết đặt mình vào dòng chảy lớn nhưng không đánh mất định hướng độc lập, tự chủ. Quan hệ với Úc và các đối tác lớn được nâng cấp tạo ra ‘độ sâu chiến lược’ cho Việt Nam”, ông Huy khẳng định. 

Theo ông, việc củng cố và làm sâu sắc quan hệ với các đối tác quan trọng góp phần nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam, đồng thời tạo thêm nguồn lực phục vụ phát triển nhanh và bền vững.

“Quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Úc phát triển hết sức tốt đẹp. Úc đã và đang là một trong những đối tác quan trọng của ta trong nhiều lĩnh vực như thương mại, du lịch và giáo dục đào tạo”, ông Trần Hùng Tâm - Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Úc khẳng định.